1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (964.38 KB, 87 trang )


32



Đội HC- Tài vụ- Ấn chỉ



Đôi Quản lý trước bạ và thu khác



Đội Kiểm tra và QLN



Đội Kê khai và Kế toán thuế



Đội Tuyên truyền hỗ trợ NN



LÃNH ĐẠO CHI CỤC THUẾ



Đội thuế liên phường xã



Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý Chi cục thuế huyện Nam Đàn

Trên địa bàn mỗi xã, thị xã có các Đội chức năng và Đội thuế liên phường xã

chịu sự chỉ đạo của Chi cục Thuế huyện và huyện ủy huyện Nam Đàn.

Hiện nay, Chi cục Thuế huyện Nam Đàn hơn 80 cán bộ. Trong thời gian qua

Cục Thuế đã có nhiều nỗ lực trong việc tuyển dụng và đào tạo nâng cao trình độ cho

cán bộ trong ngành. Khi mới thành lập ngành (01/10/1990), trình độ của cán bộ ở Chi

cục Thuế huyện Nam Đàn nhìn chung vẫn còn thấp (70% là bộ đội chuyển ngành) vớ

cơ cấu chất lượng cán bộ: 15% cán bộ có trình độ đại học, 45% có trình độ trung cấp

và 40% sơ cấp. Đến năm 1998 có 30% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, 57%

trung cấp, 13% sơ cấp. Đến nay, đã có 67% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học,

29% trunng cấp và 4% sơ cấp. Tất cả cán bộ lãnh đạo từ trưởng, phó trưởng phòng, chi

cục trưởng, phó chi cục trưởng đều có trình độ đại học và trên đại học. Ngoài việc

nâng cao trình độ chuyên môn, Chi cục Thuế huyện Nam Đàn chú trọng nâng cao trình

độ ngoại ngữ, tin học, quản lý nhà nước, kỹ năng lãnh đạo, lý luận chính trị,...

2.1.2. Khái quát về quản lý thu thuế ở Chi cục Thuế huyện Nam Đàn

Trong những năm vừa qua tình hình kinh tế trong nước diễn biến phức tạp, khó lường;

khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt

Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng, các hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu và



33



vốn đầu tư nước ngoài sụt giảm, nhiều ngành sản xuất bị thu hẹp, thị trường bất động sản

trầm lắng, thiên tai dịch bệnh xảy ra trên diện rộng làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của

doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Việc triển khai Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính

phủ đã góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích thích đầu tư và tiêu dung nhưng cũng tác

động đến nhiệm vụ thu ngân sách khi thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn nộp thuế,

phí, lệ phí...

Với sự ra đời của Luật Quản lý thuế đã tạo điều kiện thuận thuận lợi cho cơ

quan thuế cũng như NNT thực hiện quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với Nhà

nước, nâng cao tính pháp lý của các quy định quản lý thuế bảo đảm thực thi hiệu quả

các luật thuế, pháp lệnh thuế; đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời

đề cao vai trò của tổ chức và cá nhân kinh doanh trong việc tự tính, tự khai, tự nộp

thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của NNT.

Chi cục Thuế huyện Nam Đàn đã triển khai thực hiện tốt Luật Quản lý thuế và các

quy trình, thủ tục của Tổng cục Thuế ban hành. Nhờ đó, Chi cục Thuế huyện Nam Đàn

luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, số thu NSNN năm sau luôn

cao hơn năm trước (xem Bảng 2.1). Đối với thuế TNDN hàng năm chiếm tỷ trọng từ 8% đến

10% trên tổng số thu nội địa do Cục Thuế Nghệ An quản lý. Năm 2009 chỉ đạt 5,3% trên

tổng số thu nội địa của tỉnh là do thực hiện chính sách chống suy giảm kinh tế theo Nghị

quyết 30/NQ-CP của Chính Phủ. Theo đó, Chi cục Thuế huyện Nam Đàn đã thực hiện việc

miễm, giảm, gia hạn thuế TNDN khoảng 8 tỷ đồng. Vì vậy, số thuế TNDN năm 2012 thấp

hơn năm 2011 và chiếm tỷ trọng trên tổng số thấp hơn năm 2010 và 2011.

Bảng 2.1. Kết quả thu ngân sách trên địa bàn huyện Nam Đàn

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

Tổng thu nội địa



Năm 2010



Năm 2011



Năm 2012



185.3



227.1



279.6



Thuế GTGT



49.8



41



91



Thuế TNDN



16.5



17.1



15.2



Thuế TTĐB



11



13



16



Thuế TNCN



0.2



0.4



0.5



Thuế Môn bài



16



03



0.2



Thuế TNCN



0.1



0.15



0.5



Phí + thuế khác



85



147



146



Nguồn: Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn



34



Theo phân cấp quản lý hiện hành cấp chi cục: quản lý thu các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh đã được uỷ quyền, các cơ sở, hộ kinh doanh cá thể, thuế sử dụng đất

nông nghiệp, thuế nhà đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ ôtô, xe máy, đất, tàu,

thuyền... và các khoản lệ phí phát sinh trên địa.

2.1.3. Thực trạng thu thuế TNDN NQD tại huyện Nam Đàn

2.1.3.1. Khái quát về doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Nam Đàn:

Với việc thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng

XHCN. Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cạnh tranh lành mạnh

để tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.

Kể từ khi thực hiện Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 01/01/1999 đến nay, số

lượng doanh nghiệp trên địa bàn huyện Nam Đàn được tăng nhanh cả về số lượng

cũng như qui mô. Năm 1999, toàn huyện Nam Đàn chỉ có 50 doanh nghiệp, tổng số

vốn kinh doanh khoảng 20 tỷ đồng. Nhưng đến 31/12/2011 đã có 593 doanh nghiệp

đăng ký KD (xem bảng 2.1). Trong đó, gồm: 56 doanh nghiệp nhà nước, 4 doanh

nghiệp đầu tư nước ngoài, 203 công ty TNHH, 146 công ty cổ phần, 137doanh nghiệp

tư nhân, 47 hợp tác xã, với tổng số vốn kinh doanh đến 1.329,3 tỷ đồng. Số thuế

TNDN nộp NSNN là 15 tỷ đồng, chiểm 5,3% trong tổng số thu nội địa của tỉnh.

Các doanh nghiệp ở huyện Nam Đàn tuy số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng

sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, máy móc sản xuất lạc hậu, vốn ít; phần lớn là các doanh

nghiệp thuộc ngành thương nghiệp, các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất còn ít, sản

phẩm sản xuất ra chủ yếu là sản phẩm tiêu dùng, sản phẩm dùng để cho phục vụ sản

xuất và xuất khẩu chưa nhiều, chưa có sản phẩm mũi nhọn để chiểm lĩnh thị trường

trong tỉnh, huyện và cạnh tranh với tỉnh, huyện bạn.

Bảng 2.2. Số doanh nghiệp kê khai nộp thuế năm 2012

ĐVT: Doanh nghiệp

TT



Loại hình doanh nghiệp



Số lượng



1



Doanh nghiệp Nhà nước



36



2



DN đầu tư nước ngoài



4



3



Công ty TNHH



114



4



Công ty cổ phần



187



5



Doanh nghiệp tư nhân



129



6



Hợp tác xã, tổ hợp tác xã



59



Tổng cộng



539

Nguồn: Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn



35



Trên thực tế nhiều doanh nghiệp đăng ký nhưng thực chất không kinh doanh hoặc

kinh doanh không liên tục. Tính đến tháng 12/2012 số doanh nghiệp trên địa bàn

Huyện Nam Đàn có kê khai và nộp thuế cụ thể như Bảng 2.2. Theo đó số doanh

nghiệp không kê khai nộp thuế là 82 doanh nghiệp chiếm khoảng 14% trên tổng số

doanh nghiệp có đăng ký KD.

Các doanh nghiệp NQD trên địa bàn Nam huyện Nam Đàn chủ yếu là các

Công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân được thành

lập theo quy định của Luật doanh nghiệp. Hầu hết doanh nghiệp đều có quy mô vừa và

nhỏ, số lượng vốn ít.

Loại hình kinh doanh phổ biến là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Xây

dựng cơ bản (XDCB) và Thương mại dịch vụ (TMDV). Trong khi thế mạnh chính của

huyện Nam Đàn là Nông, lâm nghiệp thì các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này lại

có xu hướng giảm dần, các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực XDCB,

TMDV có xu hướng tăng lên. Đặc biệt là các doanh nghiệp XDCB tăng lên một cách ồ

ạt (gần 50% tổng số các doanh nghiệp NQD). Nguyên nhân là do lĩnh vực XDCB dễ

làm ăn hơn các lĩnh vực khác, các doanh nghiệp này thường chọn các công trình nhỏ,

vốn ít, nhân công là các lao động thủ công nên tiền công rẻ.

Loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực chế biến Nông lâm,

Thuỷ sản và sản xuất Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp số lượng còn ít là do ngành

này đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại và cần phải có thị trường nên

không hấp dẫn các nhà đầu tư.

Các doanh nghiệp trong tỉnh hầu hết là kinh doanh nhỏ lẻ, chưa có định hướng

cụ thể trong sản xuất kinh doanh, phần lớn các doanh nghiệp mới thành lập là từ hộ cá

thể chuyển lên.

Trong các doanh nghiệp thành lập còn nhiều doanh nghiệp không có bộ phận kế

toán mà chủ yếu là thuê các kế toán ở các đơn vị hành chính sự nghiệp nhà nước, hoặc

cuối năm thuê một kế toán có trình độ dựng nên một Báo cáo tài chính gửi đến cơ

quan thuế. Một số doanh nghiệp đã có bộ phận kế toán chuyên trách nhưng họ lại chỉ

có trình độ trung cấp, sơ cấp chưa hiểu rõ quy trình nộp thuế…

Có trường hợp doanh nghiệp thành lập mà không hoạt động kinh doanh, họ chỉ

thành lập doanh nghiệp với mục đích dùng hồ sơ cho các doanh nghiệp khác thuê để

đầu thầu công trình.



36



Tình hình trên đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý thu thuế các doanh

nghiệp trên địa bàn. Các doanh nghiệp thường lấy lợi ích của bản thân làm trọng nên

tình trạng trốn lậu thuế, kê khai không kịp thời, thiếu chính xác diễn ra thường xuyên.

Vì vậy, cần phải tăng cường quản lý các doanh nghiệp NQD trên địa bàn. Cần

hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, tạo ra nhiều hàng hoá dịch vụ và

giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong tỉnh, đồng thời tăng nguồn thu cho

Ngân sách địa phương.

2.1.3.2. Kết quả thu thuế TNDN NQD trên địa bàn huyện Nam Đàn

Một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung, thuế TNDN nói riêng

như đã trình bày ở Chương 1 - là đóng vai trò nguồn thu chủ yếu của NSNN. Vì vậy,

nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất của cơ quan thuế là hoàn thành nhiệm vụ thu ngân

sách trên địa bàn. Trong những năm vừa qua, với việc áp dụng nhiều biện pháp quản

lý thuế, Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn liên tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế

hoạch được giao.

Bảng 2.3: Kết quả thu thu thuế TNDN trên địa bàn

Đơn vị: Tỷ đồng

2010

Chỉ tiêu



Thuế TNDN

Thuế TNDNNQD

Thu từ TNHH

Tỷ trọng trên T.số Thuế

TNDN (%)

Thu từ CTCP

Tỷ trọng trên T.số Thuế

TNDN (%)

Thu từ DNTN

Tỷ trọng trên T.số Thuế

TNDN (%)

Thu từ HTX

Tỷ trọng trên T.số Thuế

TNDN (%)



Thực

hiện

16.10

10.73

3.45

32.15

3.92

36.53

2.16

20.13

1.21

11.28



2011



2012



% so với



% so với

% so với

Thực

Thực

Dự Cùng

Dự Cùng

Dự Cùng

hiện

hiện

toán kỳ

toán

kỳ

toán kỳ

102

108

100



121 17.10 114

129 12.29 109

107 3.92 119



106 15.20 108

115 10.18 102

114 3.24 174



89

83

83



114



31.90

115 4.35 120



31.83

111 3.68 125



85



114



35.39

108 2.22 559



36.15

103 2.12 177



95



101



18.06

118 1.38



20.83

114 1.14



83



11.23



94



91



11.20



Nguồn: Chi cục Thuế huyện Nam Đàn



37



Qua bảng 2.3 ta thấy, tổng thu Thuế TNDN hàng năm tăng so với cùng kỳ từ

25 đến 30% và hoàn thành vượt dự toán được giao. Hầu hết các đội thu thuế đều

hoàn thành ở mức cao và năm sau cao hơn năm trước. Riêng thuế TNDN NQD năm

2010, 2011 đều hoàn thành vượt mức dự toán và cao hơn cùng kỳ năm trước.

Nhưng năm 2012 số thuế TNDN NQD giảm so với các năm 2010 và 2011. Nguyên

nhân là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đã tác động trực tiếp đến kết quả

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp NQD trên địa bàn. Hơn nữa do chính sách

miễn, giảm, gia hạn nộp thuế TNDN theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP của Chính

phủ đã tác động trực tiếp đến kết quả thu thuế TNDN NQD trên địa bàn.

2.2. Thực trạng quản lý thuế TNDN trên địa bàn huyện Nam Đàn

2.2.1. Công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT

Công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT luôn được Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn

quan tâm hàng đầu bằng việc đa dạng hoá hình thức và nâng cao chất lượng công tác

truyên truyền, hỗ trợ về thuế qua đó nâng cao đuợc tính tự giác và tuân thủ pháp luật

thuế của NNT góp phần tăng thu NSNN.

+ Công tác tuyên truyền tập trung vào việc tuyên truyền kịp thời Luật quản lý

thuế; những nội dung mới, những sửa đổi bổ sung của Luật thuế thu nhập doanh

nghiệp và các thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đĩa, giảm thuế, giãn thuế,

tạm hoàn thuế theo tinh thần Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ, đảm bảo cho

NNT thực hiện kịp thời, đúng quy định; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan: Ban Tuyên

giáo huyện uỷ, các cơ quan thông tấn, báo chí để đưa tin tuyên truyền rộng rãi về nội

dung thay đổi của chính sách thuế; đưa trang trang thông tin điện tử (Website) của Cục

thuế Nghệ An lên Internet và tích hợp vào trang thông tin của tỉnh Nghệ An.

Bảng 2.4. Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền các DN NQD

Năm



Tập huấn

Số lớp



Đối thoại



Số lượt người



Số cuộc



Số người



Số bài báo



2010



7



980



6



66



4



2011



14



1.700



11



128



8



2012



22



2.281



24



387



10



Nguồn: Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn

Đặc biệt năm 2012 do chính sách thuế TNDN có nhiều thay đổi liên quan đến

Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ như miễm, giảm, gia hạn thuế TNDN



38



NQD nên công tác tuyên truyền, tập huấn cho các doanh nghiệp được chú trọng. Qua

Bảng 2.4 ta thấy công tác tuyên truyền chính sách thuế ngày càng được tăng lên cả số

lượng và chất lượng. Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn luôn cố gắng đổi mới về phương

pháp và nội dung. Do vậy, số người bình quân/ cuộc tập huấn, đối thoại ngày càng

tăng lên.

Bảng 2.5: Kết quả hỗ trợ NNT Thuế TNDN NQD

Đơn vị tính: Lượt

Năm Trả lời trực tiếp tại CQT



Trả lời qua điện thoại



Trả lời bằng văn bản



2010



228



946



142



2011



383



604



71



2012



938



509



175



(Nguồn:Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2010, 2011, 2012)

+ Công tác hỗ trợ người nộp thuế: Triển khai các giải pháp hỗ trợ NNT trong

việc tiếp cận các chính sách thuế bằng nhiều hình thức như: tổ chức đường dây nóng,

tiếp xúc trực tiếp, hướng dẫn, trả lời, đối thoại, tập huấn, phổ biến chính sách, giải đáp

vướng mắc...của NNT trong quá trình kê khai (xem Bảng 2.5), nộp thuế một cách

nhanh nhất, thuận lợi nhất; công khai các thủ tục giảm, giãn, hoàn thuế tại bộ phận

“Một cửa” thường xuyên phối hợp với các ngành tổ chức các cuộc đối thoại với doanh

nghiệp để nắm bắt và giải đạp, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về pháp luật thuế cho

người nộp thuế.

2.2.2. Quản lý khai thuế, nộp thuế

a. Quản lý kê khai, nộp thuế

Công tác quản lý kê khai, nộp thuế TNDN các Doanh nghiệp NQD được Chi

Cục Thuế huyện Nam Đàn thực hiện theo Luật Quản lý thuế và theo Quy trình quản lý

khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế, ban hành kèm theo Quyết định số 422/QĐ-TCT

ngày 22 tháng 04 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.

Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm thu thập, cập nhật thông tin, tạo cơ sở

dữ liệu ban đầu phục vụ cho các hoạt động của cơ quan thuế như: Tổng hợp, phân tích,

đánh giá tình hình thu từ đó đề ra các biện pháp quản lý thu có hiệu quả; phân tích rủi

ro để lập kế hoạch kiểm tra.

Thực hiện cơ chế “Tự khai, tự nộp thuế”, theo đó NNT khai thuế TNDN tạm tính

theo quý (mẫu số 01A/TNDN, 01B/TNDN) cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm



39



nhất là ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ nộp thuế; Khai thuế

TNDN tạm tính theo từng lần chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất (mẫu

số 02/TNDN) chậm nhất là ngày thứ mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế; Khai

thuế TNDN theo tỷ lệ thu nhập trên doanh thu chịu thuế theo tháng, theo lần phát sinh,

khấu trừ từ tiền hoa hồng đại lý theo tháng (mẫu số 04/TNDN, 05/TNDN) thời hạn

nộp hồ sơ khai thuế tháng chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng

phát sinh nghĩa vụ thuế.

Việc quản lý kê khai, nộp thuế được thực hiện hoàn toàn tự động trên máy tính.

NNT có thể nộp tờ khai trực tiếp cho cơ quan thuế hoặc nộp qua đường bưu điện. Cơ

quan thuế tiếp nhận hồ sơ khai thuế và đọc vào ứng dụng Quản lý thuế thông qua thiết

bị mã vạch hai chiều. Bộ phận nhận hồ sơ khai thuế chuyển tờ khai cho bộ phận Kê

khai- Kế toán thuế để xử lý.

Đồng thời với việc nộp hồ sơ khai thuế, NNT trực tiệp nộp tiền thuế vào Kho bạc

Nhà nước với hạn nộp cùng với hạn nộp hồ sơ khai thuế.

Căn cứ vào tình hình kê khai của NNT, Bộ phận Kê khai- Kế toán thuế thức hiện

việc đôn đốc, nhắc nhở, xử lý vi phạm các trường hợp nộp chậm hồ sơ khai thuế.

Quy trình kê khai, nộp thuế được minh hoạ theo Sơ đồ 2.2.



Sơ đồ 2.2. Mô hình tổng thể của quy trình kê khai- kế toán thuế

Kể từ khi thực hiện Luật Quản lý thuế 01/7/2007, việc chấp hành kê khai nộp thuế

của các doanh nghiệp ngày càng đi vào nề nếp.



40



Bảng 2.6 Thổng kê tình hình nộp tờ khai thuế TNDN NQD

Năm



Tỷ lệ DN nộp tờ khai



Tỷ lệ nộp đúng



Tỷ lệ tờ khai sai



thuế TNDN (%)



hạn (%)



số học (%)



2010



69



65



35



2011



72



71



21



2012



75



77



2



Nguồn: Báo cáo thống kê tình hình nộp tờ khai thuế - Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn

Từ bảng 2.6 cho thấy tính tuân thủ pháp luật thuế trong việc kê khai thuế cũng như

chất lượng kê khai ngày càng tăng lên. Điều đó chứng tỏ rằng Chi Cục Thuế huyện Nam

Đàn đã thực hiện tốt công tác quản lý kê khai của đối với doanh nghiệp trên địa bàn.

Quy trình nộp thuế của NNT được minh hoạ:



Sơ đồ 2.3: Sơ đồ quy trình nộp tiền thuế của người nộp thuế

Cơ quan thuế căn cứ vào tờ khai thuế do NNT lập và gửi đến CQT; các thông

báo nộp thuế do CQT lập và gửi cho NNT; các Quyết định xử lý về thuế của CQT; các

chứng từ nộp tiền thuế, tiền phạt của NNT; lệnh thu NSNN do cơ quan thuế lập để

trích tiền từ tài khoản của NTT nộp vào NSNN để xác định đầy đủ, chính xác, kịp thời

nghĩa vụ thuế phát sinh và thực hiện thanh toán thuế của NNT.

Trong thời gian vừa qua, đặc biệt từ năm 2010 đến nay, bộ phận kế toán thuế đã

phối hợp tốt với Kho bạc Nhà nước thực hiện hạch toán kịp thời số tiền thuế, tiền phạt

của NNT, xử lý kịp thời các vướng mắc trong luân chuyển chứng từ và giải quyết tốt



41



thủ tục thoái trả tiền thuế, tiền hoàn thuế cho NNT; thông qua hoàn thuế đã tiến hành

thu nợ thuế của nhiều doanh nghiệp với số tiền thuế lên đến hàng chục tỷ đồng.

2.2.3. Quản lý miễn thuế, giảm thuế

Công tác quản lý miễn, giảm thuế TNDN được Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn

thực hiện theo Luật Quản lý thuế và theo Quy trình miễn giảm thuế, ban hành kèm

theo Quyết định số 598/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng

Tổng cục Thuế có hiệu lực từ 29/5/2008-24/10/2011; Đến 24/10/2011 được thay thế

bởi quy trình 1444/QĐ-TCT ngày 24/10/2011 của Tổng cục trưởng Tổng Cục Thuế.

Theo đó, bộ phận Hành chính văn thư hoặc bộ phận “Một cửa” sau khi tiếp

nhận hồ sơ miễn giảm thuế chuyển cho bộ phận Kê khai- Kế toán thuế. Bộ phận Kê

khai- Kế toán thuế kiểm tra, phân tích hồ sơ. Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp pháp, đúng thủ tục

theo quy định và khớp đúng với cơ sở dữ liệu của NNT thì xác định số thuế, lập phiếu

phiếu trình và dự thảo Quyết định miễn giảm. Đối với những trường hợp phải kiểm tra

tại trụ sở NNT thì chuyển cho bộ phận kiểm tra thực hiện các công việc kiểm tra thuế

tại cơ sở kinh doanh NNT theo quy định tại Quy trình kiểm tra thuế. Những trường

hợp có dấu hiệu nghi vấn sẽ được chuyển cho bộ phận thanh tra thực hiện các công

việc thanh tra thuế tại trụ sở NNT theo quy định tại Quy trình thanh tra thuế.

Kết quả thực hiện miễn giảm thuế từ 2010 đến 2012 được thể hiện

Bảng 2.7 Kết quả miễn, giảm thuế TNDN NQD

Đơn vị tính: tỷ đồng

Năm



Số DN được miễn giảm



Tổng số tiền miễm giảm



2010



70



1,4



2011



116



2,3



2012



164



2,6



(Nguồn: Báo cáo thống kê miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp)

Năm 2010, tổng số thuế TNDN NQD miễn, giảm là 1,4 tỷ đồng. Trong đó

miễn, giảm đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư và cơ sở kinh

doanh di chuyển địa điểm theo quy định tại Điều 34, Điều 35 Nghị định 24/2007/NĐCP là 0,6 tỷ đồng; miễn giảm đối với cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng dây chuyền

công nghệ mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái,

nâng cao năng lực sản xuất điểm theo quy định tại Điều 36 Nghị định 24/2007/NĐ-CP

là 0,5 tỷ đồng; còn lại 0,3 tỷ đồng là miễn, giảm cho các trường hợp khác.



42



Năm 2011, tổng số thuế TNDN NQD được miễn, giảm là 2,3 tỷ đồng. Trong đó

miễn, giảm đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư và cơ sở kinh

doanh di chuyển địa điểm theo quy định tại Điều 34, Điều 35 Nghị định 24/2007/NĐCP là 0,8 tỷ đồng; miễm giảm nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế theo Nghị quyết số

08/2011/QH13 ngày 06 tháng 8 năm 2011 của Quốc hội ban hành bổ sung một số giải

pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân là 0,6 tỷ đồng; số

còn lại là miễn giảm cho các trường hợp khác.

Năm 2012 số thuế TNDN NQD được miễn, giảm là 2,6 tỷ đồng. Trong đó

miễn, giảm đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư và cơ sở kinh

doanh di chuyển địa điểm theo quy định tại Điều 34, Điều 35 Nghị định 24/2007/NĐCP là 1,2 tỷ đồng; miễm giảm nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế theo Nghị quyết số

13/2012/NQ-CP ngày 10/5/2012 của chính phủ là 0,9 tỷ đồng; số còn lại là miễm giảm

cho các trường hợp khác.

2.2.4 Quản lý doanh thu tính thuế TNDN NQD

Kể từ khi thực hiện Luật Quản lý thuế, công tác miễn, giảm thuế đã thực hiện

tương đối kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT. Tuy nhiên, công tác quản lý

miễm, giảm chất lượng còn thấp, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng sơ hở của chính sách

ưu đãi đầu tư để kê khai miễm giảm thuế không đúng thực chất, gây thất thu cho NSNN.

Bảng 2.8. Một số doanh nghiệp NQD kê khai sai doanh thu năm 2012

Đơn vị: Tỷ đồng

Tên DN

Công ty CP Gạch

ngói Nam Giang

Công ty TNHH

Tân Bình Mạnh

Công ty TNHH

Thắng Hanh

.................



Doanh thu theo

quyết toán



Doanh thu xác

định lại



Chênh lệch



0.032



0.034



0.002



0.026



0.031



0.005



0.012



0.013



0.001



................



.................



...............



Nguồn: Chi cục Thuế huyện Nam Đàn

Để xác định được số thuế TNDN mà doanh nghiệp NQD phải nộp thì cần phải

xác định chính xác doanh thu tính thuế để tính thu nhập chịu thuế. Căn cứ để xác định

doanh thu là hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

×