1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

Kể từ khi thực hiện Luật Quản lý thuế, công tác miễn, giảm thuế đã thực hiện tương đối kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT. Tuy nhiên, công tác quản lý miễm, giảm chất lượng còn thấp, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng sơ hở của chính sách ưu đãi đầu tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (964.38 KB, 87 trang )


43



Trong thời gian qua, Đội Kiểm tra - Quản lý nợ đã phối hợp cùng phòng kiểm

tra của Cục thuế tiến hành kiểm tra một số doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện. Qua

công tác kiểm tra, cán bộ thuế đã phát hiện nhiều doanh nghiệp kê khai doanh thu thấp

hơn so với thực tế thu tiền về.

Một số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, do chủng loại hàng

hoá phong phú, đa dạng nên việc điều tra doanh số rất khó khăn. Các doanh nghiệp

NQD này không phản ánh đúng giá cả hàng hoá khi tiêu thụ, hàng hoá tiêu thụ nhiều

phản ánh ít, có những trường hợp bán nợ chưa thu tiền không kê khai thuế mà ghi là

hàng tồn kho để có thuế âm. Hoặc nhập hàng về đã bán với gia thực tế rất cao nhưng

phản ánh trên hoá đơn thì chỉ phản ánh với giá thấp hơn nhiều.

Thông qua công tác kiểm tra 6 doanh nghiệp NQD trên địa bàn đã tăng doanh

thu 0.8 tỷ đồng, tăng tương ứng 0.022 tỷ đồng tiền thuế TNDN. Cụ thể: Công ty

TNHH Tân Bình Mạnh tăng doanh thu 0.005 tỷ đồng, công ty CP Gạch ngói Nam

Giang tăng doanh thu 0.002 tỷ đồng …

Đội Kiểm tra - Quản lý nợ đã thực hiện tốt công tác kiểm tra các doanh nghiệp

để quản lý tốt việc kê khai doanh thu để tính thuế TNDN, nếu không thực hiện kiểm

tra mà chỉ thu theo tờ khai thì số thuế thất thu sẽ rất lớn.

Nhìn chung, kết quả thu thuế những năm qua là khá tốt. Đạt được các kết quả

đó trước hết phải kể đến nỗ lực đổi mới, khắc phục những thiếu sót trong công tác

quản lý thu thuế của cơ quan thuế. Bên cạnh đó, công tác quản lý NNT đã được tăng

cường hơn. Chi Cục Thuế đã quan tâm khai thác triệt để nguồn thu trên cơ sở thực

hiện đúng pháp luật. Chất lượng công tác quản lý doanh số thuế cũng đã được nâng

cao. Về phía doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm vừa qua

đã có bước phát triển về quy mô, doanh số và lĩnh vực hoạt động. Việc áp dụng chế độ

kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ ở các doanh nghiệp được thực hiện ngày càng chuyên

nghiệp hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế.

Tuy nhiên, bên cạnh những con số khả quan nêu trên thì vẫn còn tồn tại một

số vấn đề bất cập cần sớm xem xét khắc phục, như: trình độ tổ chức cũng như quy

mô của nhiều cơ sở kinh doanh chưa cao; trình độ chuyên môn cũng như sự hiểu biết

về luật thuế còn nhiều hạn chế nên trong quá trình thực hiện còn nhiều sai sót hoặc là

vô tình hoặc cố ý, làm giảm tổng thu NSNN; một số doanh nghiệp lợi dụng quy trình

tự tính, tự khai thuế, gian lận trong việc kê khai nhằm mục đích trốn thuế. Về phía



44



cán bộ thuế, tuy đã có nhiều cố gắng nhưng ở khâu kiểm soát vẫn chưa thật kịp thời,

vẫn còn tình trạng thất thu thuế, nhiều doanh nghiệp vẫn nợ dọng thuế kéo dài.

2.2.5. Quản lý nợ thuế

Từ ngày 01/7/2007 Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành, đồng thời ngành

thuế chuyển sang mô hình quản lý theo chức năng, hệ thống quản lý nợ thuế chuyên

trách được thành lập, công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế được chỉ đạo triệt để

và tiến hành quyết liệt, đúng quy định của pháp luật.

Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn đã tổ chức tập huấn, triển khai công tác thu nợ

và cưỡng chế nợ thuế theo Luật Quản lý thuế, Quy trình quản lý nợ và cưỡng chế nợ

thuế của Tổng cục thuế cho lãnh đạo các phòng, các chi cục và các cán bộ chuyên

trách công tác quản lý nợ thuế. Các quy trình quản lý áp dụng:

- Quy trình kèm theo Quyết định số 477/QĐ-TCT ngày 15/5/2008 của Tổng cục

trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình quản lý thu nợ thuế và Quyết định

số 752/QĐ-TCT ngày 14/5/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban

hành Quy trình quản lý nợ thuế đối với hộ kinh doanh và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế

vào ngân sách nhà nước do các Chi Cục Thuế quản lý. Có hiệu lực từ 15/5/200814/10/2011.

- Quy trình kèm theo Quyết định số 1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011 của Tổng

cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình quản lý thu nợ thuế. Có hiệu lực

từ 14/10/2011 đến nay.

Hàng tháng rà soát, phân công các khoản nợ mới phát sinh cho từng cán bộ.

Các cán bộ sau khi được phân công quản lý các khoản nợ mới phát sinh thực hiện phân

loại, theo dõi đôn đốc thu nợ, đối chiếu để xác định chính xác cụ thể nợ đọng của từng

doanh nghiệp. Các khoản nợ thuế đã được phân theo địa bàn giao cho từng cán bộ

chịu trách nhiệm quản lý; gắn trách nhiệm thủ trưởng cơ quan thuế, bộ phận quản lý

nợ, cán bộ thuế đối với các khoản nợ thuế có khả năng thu; xử phạt đối với các khoản

nợ thuế quá hạn.

Chỉ đạo thực hiện kiên quyết các biện pháp cưỡng chế, thu hồi nợ đọng đối với

các khoản nợ khó đòi, chây ỳ; đôn đốc và kịp thời thu những khoản nợ mới phát sinh;

tập trung xử lý nợ thuế đối với các truờng hợp nghỉ, bỏ kinh doanh, giải thể, phá sản,...



45



Bảng 2.9. Tình hình nợ thuế TNDN NQD từ 2010-2012

Đơn vị: tỷ đồng

Tổng

Năm



số tiền

nợ



Nợ khó thu

Số tiền



Tỷ trọng

(%)



Nợ chờ xử lý

Số tiền



Tỷ trọng

(%)



Nợ có khả năng thu

Số tiền



Tỷ trọng

(%)



2010



1.29



0.28



22



0.36



28



0.65



50



2011



1.69



0.32



19



0.5



29



0.87



51



2012



2.27



0.4



18



0.62



27



1.25



55



Nguồn: Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn

Ta thấy tổng số nợ năm sau cao hơn năm trước (xem Bảng 2.9). Tuy nhiên, xét

về tỷ trọng của các khoản nợ, ta thấy nợ có khả năng thu là cao nhất, tiếp đến là nợ chờ

xử lý, nợ khó thu chiếm tỷ trọng thấp nhất. Và tỷ trọng nợ khó thu có xu hướng ngày

càng giảm xuống. Điều đó chứng tỏ công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đã có

nhiều cố gắng để không làm tăng nợ khó thu. Nguyên nhân nợ mới phát sinh tăng lên

là do khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp; do thực hiện các Nghị Quyết của Chính phủ nhằm tháo gỡ vướng

mắc cho doanh nghiệp, vì vậy công tác thu nợ chưa thực sự quyết liệt.

Nhìn chung, công tác quản lý thu nợ trong nững năm qua đã đạt được những kết

quả đáng kể, đã phân tích, phân loại chi tiết được từng khoản nợ, lịch sử nợ thuế theo

từng đối tượng nộp thuế.

2.2.6. Công tác kiểm tra thuế TNDN NQD

Kiểm tra là công tác không thể thiếu được trong công tác quản lý thuế. Luật

Quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 đã tạo ra hành lang pháp lý để

công tác kiểm tra đi vào hoạt động một cách có nề nếp và mang lại hiệu quả cao hơn.

Tuy còn gặp không ít khó khăn từ việc ban hành đồng bộ các quy trình kiểm tra cũng

như ý thức chấp hành kết luận kiểm tra của NNT có phần hạn chế song công tác kiểm

tra đã góp phần vào kết quả thực hiện dự toán thu của toàn ngành.

Công tác kiểm tra được xác định là công tác trọng tâm trong công tác quản lý

thuế theo quy trình tự tính, tự khai, tự nộp và tự quyết toán thuế, vì vậy luôn được sự

quan tâm của lãnh đạo các Chi cục. Điều này được thể hiện từ việc tăng cường đội ngũ

cán bộ, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đến việc trang bị công cụ

làm việc, xây dựng và triển khai các ứng dụng tin học phục vụ cho công tác kiểm tra

thuế. Chính vì vậy, trong những năm qua công tác kiểm tra đã đem lại những kết quả



46



đáng kể, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quan lý thuế góp phần hoàn thành

nhiệm vụ chung của toàn ngành.

2.2.6.1. Công tác kiểm tra NNT

Tập trung lực lượng rà soát, đối chiếu, kiểm tra giám sát đưa toàn bộ doanh

nghiệp vào diện quản lý của cơ quan thuế. Kiểm tra giám sát chặt chẽ tình hình hoạt

động sản xuất kinh, doanh của doanh nghiệp; tăng cường công tác kiểm tra tờ khai

thuế, kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế, đẩy nhanh tiến độ thanh tra, kiểm tra tại doanh

nghiệp. Chú trọng vào các doanh nghiệp lớn, có dấu hiệu rủi ro; các doanh nghiệp có

những biểu hiện vi phạm trong kê khai nộp thuế, các doanh nghiệp thường xuyên lỗ

nhưng vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng; các doanh nghiệp chưa được thanh tra, kiểm tra từ

2 năm trở lên; kiểm tra trước và sau hoàn thuế.; kiểm tra thuế kết hợp với kiểm tra giá

theo chỉ đạo của Cục thuế, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế. Tập trung vào những lĩnh

vực có dấu hiệu thất thu nhiều như: Khai thác khoáng sản, kinh doanh gỗ, kinh doanh

vật liệu xây dựng, kinh doanh xe máy.

- Kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế: Thực hiện Luật Quản lý thuế, kiểm tra thuế là

lực lượng trực tiếp quản lý số thu NS toàn ngành theo quy trình tự tính, tự khai, tự nộp,

tự quyết toán thuế. Thông qua chức năng kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế, đội kiểm tra

tại Chi cục căn cứ vào hồ sơ khai thuế, sử dụng hệ thống ứng dụng phần mềm phục vụ

Quản lý thuế để kiểm tra, phân tích hồ sơ khai thuế của các doanh nghiệp. Qua đó,

phát hiện ra những sai sót trong quá trình kê khai, quyết toán thuế để yêu cầu doanh

nghiệp kê khai bổ sung, điều chỉnh đối với những hồ sơ khai sai, khai thiếu với số thuế

phải nộp. Chỉ tính riêng năm 2012, Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn đã kiểm tra 4.296

hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế, phát hiện 195 hồ sơ khai sai và yêu cầu điều chỉnh số

tiền thuế là 1,36 tỷ đồng.

- Kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp: Đây là bước tiếp xúc trực tiếp với doanh

nghiệp, trong quá trình thực hiện cán bộ thuế phải tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin

chuyên sâu, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ, thông tin, các nghi vấn về

doanh nghiệp, đề xuất giải pháp xử lý đối với những nội dung đã được làm rõ.

Bảng 2.10 Kết quả kểm tra tại trụ sở DN NQD

Năm



Số DN kiểm tra



Số thuế truy thu và phạt (tỷ đồng)



2010



168



1,22



2011



217



2,27



2012



352



4,57



Nguồn: Báo cáo Tổng kết thuế năm. - Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn



47



Việc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế được tiến hành theo kế hoạch, nội dung

kiểm tra chủ yếu là kiểm tra quyết toán, kiểm tra chấp hành Luật thuế. Kết quả kiểm

tra tại trụ sở NNT được thể hiện tai Bảng 2.10

2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý thuế TNDN NQD ở huyện Nam Đàn

Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN NQD nói riêng rất phức tạp, liên

quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, ảnh hưởng trực tiếp trực tiếp đến NNT và thu hút

nhiều sự quan tâm của dư luận xã hội. Trên mặt trận này không kém phần quyết liệt.

Để thu được đồng tiền thuế vào NSNN là cả một quá trình không ngại khó, ngại khổ,

ngày đêm không quản mưa nắng, nhiều lúc phải vượt qua chính mình trước những cám

dỗ của đời thường, hay sự đe doạ của những người chống đối pháp luật. Công việc của

ngành Thuế hết sức thầm lặng, bền bỉ, thấm đẫm bao mồ hôi, công sức và kể cả máu.

Có người đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp của ngành và được Nhà nước công nhận là

liệt sỹ. Cán bộ và công chức Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn luôn vững vàng trước

mọi khó khăn, cám dỗ, giữ vững phẩm chất của người cán bộ thuế trên mặt trận kinh

tế, đủ năng lực trình độ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

2.3.1. Kết quả đạt được

Trong những năm vừa qua, trước bối cảnh kinh tế diễn biến phức tạp, khó

lường; khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến nền

kinh tế nước ta nói chung và huyện Nam Đàn nói riêng, các hoạt động sản xuất, kinh

doanh sụt giảm, nhiều ngành nghề sản xuất bị thu hẹp, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên

diện rộng trong toàn tình làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và

đời sống của nhân dân. Việc triển khai Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ;

Quyết định số 16/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 58/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ đã góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích thích đầu tư, tiêu dùng và

tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhưng cũng tác động không nhỏ đến nhiệm vụ thu

ngân sách trên địa bàn nói chung và thu thuế TNDN NQD nói riêng khi thực hiện các

chính sách miễn, giảm, gia hạn nộp thuế.

Dưới sự lãnh đạo của Bộ Tài chính, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân; sự chỉ đạo

điều hành quyết liệt, sát sao của Uỷ ban nhân dân các cấp, Tổng cục thuế; sự phối kết

hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp; sự nỗ lực trong việc khắc phục khó khăn, duy trì

phát triển sản xuất kinh doanh và nghiêm chỉnh chấp hành chính sách thuế của đại bộ

phận các tổ chức, cá nhân kinh doanh cùng với sự tích cực phấn đấu của cán bộ công



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

×