1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

Bảng 2.10 Kết quả kểm tra tại trụ sở DN NQD

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (964.38 KB, 87 trang )


47



Việc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế được tiến hành theo kế hoạch, nội dung

kiểm tra chủ yếu là kiểm tra quyết toán, kiểm tra chấp hành Luật thuế. Kết quả kiểm

tra tại trụ sở NNT được thể hiện tai Bảng 2.10

2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý thuế TNDN NQD ở huyện Nam Đàn

Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN NQD nói riêng rất phức tạp, liên

quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, ảnh hưởng trực tiếp trực tiếp đến NNT và thu hút

nhiều sự quan tâm của dư luận xã hội. Trên mặt trận này không kém phần quyết liệt.

Để thu được đồng tiền thuế vào NSNN là cả một quá trình không ngại khó, ngại khổ,

ngày đêm không quản mưa nắng, nhiều lúc phải vượt qua chính mình trước những cám

dỗ của đời thường, hay sự đe doạ của những người chống đối pháp luật. Công việc của

ngành Thuế hết sức thầm lặng, bền bỉ, thấm đẫm bao mồ hôi, công sức và kể cả máu.

Có người đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp của ngành và được Nhà nước công nhận là

liệt sỹ. Cán bộ và công chức Chi Cục Thuế huyện Nam Đàn luôn vững vàng trước

mọi khó khăn, cám dỗ, giữ vững phẩm chất của người cán bộ thuế trên mặt trận kinh

tế, đủ năng lực trình độ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

2.3.1. Kết quả đạt được

Trong những năm vừa qua, trước bối cảnh kinh tế diễn biến phức tạp, khó

lường; khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến nền

kinh tế nước ta nói chung và huyện Nam Đàn nói riêng, các hoạt động sản xuất, kinh

doanh sụt giảm, nhiều ngành nghề sản xuất bị thu hẹp, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên

diện rộng trong toàn tình làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và

đời sống của nhân dân. Việc triển khai Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ;

Quyết định số 16/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 58/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ đã góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích thích đầu tư, tiêu dùng và

tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhưng cũng tác động không nhỏ đến nhiệm vụ thu

ngân sách trên địa bàn nói chung và thu thuế TNDN NQD nói riêng khi thực hiện các

chính sách miễn, giảm, gia hạn nộp thuế.

Dưới sự lãnh đạo của Bộ Tài chính, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân; sự chỉ đạo

điều hành quyết liệt, sát sao của Uỷ ban nhân dân các cấp, Tổng cục thuế; sự phối kết

hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp; sự nỗ lực trong việc khắc phục khó khăn, duy trì

phát triển sản xuất kinh doanh và nghiêm chỉnh chấp hành chính sách thuế của đại bộ

phận các tổ chức, cá nhân kinh doanh cùng với sự tích cực phấn đấu của cán bộ công



48



chức ngành thuế huyện Nam Đàn, công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế

TNDN NQD nói riêng đã đạt được những kết quả quan trọng. Cụ thể là:

a) Đảm bảo số thu, hoàn thành vượt mực dự toán thu ngân sách hàng năm

Kinh tế huyện Nam Đàn tuy có tốc độ tăng trưởng khá, nhưng chất lượng tăng

trưởng chưa vững chắc, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và chất lượng còn

thấp, sản xuất nông nghiệp vẫn còn chủ yếu. Đòi hỏi Chi cục thuế huyện Nam Đàn

quản lý và khai thác tốt mọi nguồn thu trên địa bàn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu phục

vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Xác định rõ trách nhiệm của mình, Chi Cục Thuế

huyện Nam Đàn đã phấn đấu liên tục nhiều năm liền hoàn thành dự toán thu ngân

sách được giao.

b) Công tác chỉ đạo, điều hành thu thuế TNDN NQD

Thường xuyên theo dõi, phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân

sách để kịp thời báo cáo cho cục Thuế, Uỷ ban nhân dân các cấp nắm bắt để điều hành

công tác thu ngân sách nói chung, thu thuế TNDN NQD nói riêng trên địa bàn. Tính

toán cụ thể các khoản giảm thu do kinh tế, do chính sách; đồng thời rà soát lại nguồn

thu trên địa bàn, kịp thời phát hiện những khoản thu có thể tăng thu để từ đó có các

biện pháp quản lý cụ thể, sát thực cho từng địa bàn, từng lĩnh vực.

Toàn Chi cục đã chỉ đạo quyết liệt việc khai thác các nguồn thu lớn thu từ các

dự án, doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tập trung rà soát nguồn thu lớn có dấu hiệu bỏ

sót hoặc chậm trễ trong kê khai: Thu từ hoạt động xây dựng cơ bản, thu thuế từ các dự

án xây dựng nhà để bán; thu từ các doanh nghiệp ngoại tỉnh có hoạt động kinh doanh

trên địa bàn huyện Nam Đàn; thu từ nhà thầu nước ngoài tại các Ban quản lý dự án.

Hướng dẫn và đưa các doanh nghiệp mới đi vào sản xuất trên địa bàn kê khai, nộp thuế

đúng quy định của Pháp luật.

c) Thực hiện tốt các chức năng quản lý thuế

* Công tác Tuyên truyền Hỗ trợ NNT: Trong những năm qua, do có sự chỉ đạo

sát sao, thống nhất nên công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT đã được đẩy mạnh, triển

khai thông suốt, sâu rộng từ Chi cục Thuế huyện Nam Đàn đến các đội thuế lien

phường xã. Nhờ vậy, công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT luôn được đổi mới về nội

dung, hình thức nên đã đạt được một số kết quả tiến bộ, góp phần thực hiện thắng lợi

chiến lược cải cách thuế, cùng Chi cục thuế huyện Nam Đàn hoàn thành xuất sắc

nhiệm vụ được giao; cung cấp thông tin, hỗ trợ kịp thời phục vụ tốt cho hoạt động sản



49



xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân; Tạo được quan hệ mang tính hợp tác, phục

vụ của cơ quan thuế, đảm bảo từng bước dân chủ hoá công tác quản lý thuế, xây dựng

lòng tin cho doanh nghiệp và người nộp thuế.

* Công tác Kê khai- Kế toán thuế ngày càng đi vào nề nếp từ công tác kê khai,

nộp thuế đến công tác miễn, giảm, gia hạn, hoàn thuế đã thực hiện đúng quy trình của

Tổng cục Thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động

sản xuất kinh doanh.

* Công tác quản lý nợ thuế đã đạt được một số kết quả đáng chú ý là: Đã thực

hiện kiểm tra rà soát, xác định số thuế nợ đọng của từng đối tượng nợ thuế, tiến hành

phân loại theo tình trạng nợ thuế như: nợ khó thu, nợ chờ xử lý, nợ có khả năng thu;

Triển khai chương trình ứng dụng tin học vào quản lý nợ thuế để hiện đại hoá công tác

quản lý nợ thuế, đáp ứng yêu cầu tổng hợp, chỉ đạo công tác quản lý nợ thuế của Tổng

cục Thuế; tích cực tuyên truyền vận động, thuyết phục các đối tượng tự giác nộp thuế

kịp thời đúng quy định; Áp dụng một số biện pháp cưỡng chế đối với các đối tượng nợ

thuế dây dưa, chây ỳ.

*, Công tác kiểm tra: Với việc thực hiện Luật quản lý thuế đã làm tăng vai trò

của công tác kiểm tra nhằm đảm bảo sự nghiêm minh của các luật thuế. Qua công tác

kiểm tra đã chấn chỉnh kịp thời việc thực hiện ghi chép chứng từ, sổ sách đúng quy

định; chấn chỉnh sửa chữa kịp thời những sai sót, vi phạm, đồng thời động viên đôn

đốc các doanh nghiệp kê khai chính xác, nộp thuế đầy đủ và kịp thời, phát hiện và truy

thu trốn lậu thuế, đảm bảo đóng góp công bằng giữa các tổ chức, cá nhân nộp thuế.

d) Ứng dụng CNTT đẩy nhanh tiến độ cải cách hành chính thuế và hiện đại

hoá công tác quản lý thuế

Để phục vụ tốt người nộp thuế và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, Chi

cục thuế huyện Nam Đàn đã đầu tư thiết bị, triển khai tốt các ứng dụng phần mềm vào

các khâu quản lý thuế và quản lý nội bộ cơ quan. Đến nay, tỷ lệ ứng dụng tin học đạt

khoảng 60% các công việc quản lý thuế, tự động hoá hầu hết các chức năng quản lý

thuế chủ yếu như: đăng ký thuế, xử lý kê khai, nộp thuế, kế toán thuế, quản lý nợ,

thanh kiểm tra.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.3.2.1. Hạn chế

Một là, về tổ chức bộ máy: Công tác tổ chức đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn

còn nhiều hạn chế, cụ thể là:



50



- Ngành thuế còn thiếu chức năng khởi tố, điều tra các vi phạm pháp luật về thuế.

- Việc phân bổ nguồn lực còn nhiều điểm chưa hợp lý: cán bộ tại các bộ phận

thực hiện các chức năng quản lý thuế chính còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng

trước yêu cầu quản lý thuế mới. Đặc biệt là số lượng cán bộ kiểm tra trên tổng số công

chức toàn ngành còn chưa tương xứng với nhiệm vụ đặt ra (khoảng 19%). Trong khi

đó kinh tế ngày càng phát triển, số lượng người nộp thuế ngày càng gia tăng, với tỷ lệ

cán bộ thanh tra kiểm tra như hiện nay, việc giám sát, kiểm tra người nộp thuế sẽ khó

đảm bảo được thực hiện đầy đủ.

- Việc phân bố rải rác các đội thuế phường xã dẫn đến khó khăn cho việc áp

dụng phương thức quản lý hiện đại.

Hai là, về công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế: hệ thống cơ sở dữ liệu

phục vụ cho công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế còn hạn chế; các hình thức

tuyên truyền chưa phong phú, trang thiết bị phục vụ công tác tuyên truyền, hỗ trợ chưa

đầy đủ, cán bộ được bố trí làm công tác tuyên truyền, hỗ trợ chưa được chú trọng về

năng lực chuyên môn và kỹ năng phục vụ. Bên cạnh đó chính sách thuế thường xuyên

thay đổi cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tuyên truyền, hỗ trợ người

nộp thuế.

Ba là, về công tác kê khai kế toán thuế: Chưa thực hiện kịp thời việc rà soát mã

số thuế của các doanh nghiệp. Hiện tượng doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh nhưng

không hoạt động; các doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngừng nghỉ khinh doanh nhưng

chưa thực hiện động mã số thuế kịp thời dẫn đến số lượng mã số thuế trong hệ thống

nhiều hơn số thực tế.

Bốn là, về công tác kiểm tra: chất lượng công tác kiểm tra đã được nâng lên, thể

hiện qua số thuế truy thu bình quân qua mỗi cuộc kiểm tra. Tuy nhiên do lực lượng

cán bộ làm công tác kiểm tra còn ít nên chưa đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý

thuế mới.

Công tác kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế, kiểm tra việc chấp hành pháp luật

thuế tại trụ sở người nộp thuế đã được chú trọng nhưng chất lượng chưa cao. Triển

khai công tác kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế còn chậm, số lượng đơn vị được

kiểm tra thực tế đạt tỷ lệ thấp so với số đợn vị quản lý; một số cuộc kiểm tra còn kéo

dài nhưng chưa có lý do chính đáng tại hồ sơ, việc xử lý kết quả sau khi kết thúc kiểm

tra còn chậm so với thời gian quy định; công tác xác định chứng cứ vi phạm chưa



51



được củng cố đảm bảo tính pháp lý cao. Vì vậy hiệu quả của việc kiểm tra, chưa đáp

ứng yêu cầu đòi hỏi.

Năm là, về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: nợ đọng thuế vẫn còn

nhiều, có xu hướng tăng và không đạt chỉ tiêu thu nợ phát sinh đã đề ra; xử phạt nộp

chậm tiền thuế thực hiện chưa triệt để chưa áp dụng các biện pháp để cưỡng chế nợ

thuế; việc phối hợp giữa các phòng, các đội và các cơ quan có liên quan trong việc xử

lý các hồ sơ miễn, giảm, khoanh, xoá nợ thuế,... chưa kịp thời đã làm tăng đáng kể số

nợ đọng về thuế. Chưa xây dựng và áp dụng hệ thống các tiêu chí đánh giá rủi ro trong

quản lý nợ để từ đó tập trung nhân lực vào quản lý thu nợ đối với những đối tượng có

mức độ rủi ro lớn. Chưa thực hiện được kết nối, trao đổi thông tin với các cơ quan, tổ

chức có liên quan để theo dõi tình trạng tài sản, nguồn vốn phục vụ cho công tác thu

hồi nợ đọng thuế.

Sáu là, về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu NNT: Mức độ ứng dụng công nghệ

thông tin và hiện đại hoá của các ngành là rất khác nhau, lại chưa có mô hình Chính

phủ chung nên việc kết nối, trao đổi thông tin còn khó khăn trong việc xây dựng cơ

chế và ứng dụng công nghệ thông tin giữa các ngành. Trình độ, khả năng sử dụng, ứng

dụng công nghệ thông tin trong quản lý của doanh nghiệp còn thiếu sự thống nhất và không

đồng đều dẫn đến khó khăn trong việc thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu NNT.

2.3.2.2. Nguyên nhân

a) Nguyên nhân khách quan

Một là, một số quy định của Luật thuế TNDN chưa theo kịp để điều chỉnh, bao

quát các hoạt động kinh tế mới phát sinh, như: bán hàng đa cấp, dịch vụ thương mại

điện tử, cơ chế thuế thích hợp cho các tập đoàn kinh tế; quy định tỷ lệ khống chế chi

phí được trừ đối với hoạt động quảng cáo; quy định thu nhập khác không thuộc diện

ưu đãi thuế; quy định về ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư mở rộng dưới hình

thức lập cơ sở sản xuất kinh doanh mới nhưng không lập pháp nhân mới, chính sách

ưu đãi thuế đối với các dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho sinh viên, công nhân làm việc

trong các khu công nghiệp và người có thu nhập thấp, quy định về chính sách thuế áp

dụng đối với các tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

Các văn bản hướng dẫn có sự chồng chéo, không cụ thể, rõ ràng, chưa sát với thực

tế nên công tác thu thuế xẩy ra tình trạng chồng chéo, trái thẩm quyền dẫn đến một số

lợi dụng để trốn thuế, chiếm dụng tiền thuế.



52



Hai là, thủ tục hành chính trong quản lý thuế còn nhiều phức tạp, chưa tiết kiệm

chi phí, thời gian công sức cho người nộp thuế và ngay cả với cơ quan thuế.

Ba là, Luật Doanh nghiệp không quy định những điều kiện ràng buộc về lý lịch

người sáng lập hoặc điều hành doanh nghiệp, không quy định cụ thể số lượng doanh

nghiệp hoặc số người được tham gia với tư cách là thành viên sáng lập hoặc người

điều hành; không quy định cụ thể việc thẩm định vốn kinh doanh, địa điểm kinh

doanh... nên việc quản lý doanh nghiệp sau khi thành lập cũng đang bị buông lỏng. Sở

Kế hoạch và Đầu tư thực chất mới chỉ thực hiện việc cấp đăng ký kinh doanh nhưng

chưa quản lý được doanh nghiệp sau khi thành lập. Nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt

động nhưng các cơ quan quản lý không nắm được, gây rất nhiều khó khăn cho công

tác quản lý thuế.

Bốn là, tình trạng thanh toán không dùng tiền mặt vẫn còn tương đối phổ biến vẫn

là thói quen tiêu dùng của người dân dẫn đến nhiều tiêu cực trong thanh toán như mua

hàng không lấy hoá đơn, hoá đơn không, khai tăng chi phí,... gây khó khăn cho công

tác quản lý thuế.

Năm là, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại hoá của các ngành là

rất khác nhau, lại chưa có mô hình Chính phủ điện tử nên việc kết nối, trao đổi thông

tin còn khó khăn trong việc xây dựng cơ chế cụ thể và ứng dụng thông tin giữa các

ngành. Trình độ, khả năng sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giao

dịch của doanh nghiệp và người dân mặc dù đã phát triển nhanh chóng nhưng thiếu sự

thống nhất và không đồng đều dẫn đến hiệu quả còn thấp cũng ảnh hưởng đến công tác

quản lý thuế.

Sáu là, hệ thống ứng dụng quản lý thuế giữa các cấp chưa đồng bộ; cơ sở dữ liệu chưa

thực sự ổn định dẫn đến gây khó khăn cho việc khai thác, tổng hợp, phân tích số liệu.

Bảy là, vẫn còn một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp và người dân chưa có ý

thức làm theo Luật, tuân thủ luật một cách tự nguyện dẫn đến tình trạng vi phạm pháp

luật nói chung và Luật thuế nói riêng do thiếu hiểu biết hoặc cố ý không tuân thủ đúng

pháp luật.

Tám là, con người là yếu tố quyết định sự thành công, tuy nhiên, công chức thuế,

trong tình trạng chung, chưa được cải thiện thoả đáng về thu nhập và điều kiện, môi

trường làm việc cũng như các cơ hội phát triển nghề nghiệp còn chưa được khuyến

khích thự sự thu hút nhân tài làm việc cho ngành thuế (bao gồm chính sách tuyển

dụng, đề bạt, nâng lương...).



53



Chín là, do phải phải triển khai nhiều biện pháp ứng phó với khủng hoảng

kinh tế nên chính sách thuế có nhiều thay đổi dẫn đến gây khó khăn cho công tác

quản lý thuế.

Mười là, tình trạng chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâm đến quản lý

thuế trên địa bàn vẫn còn xẩy ra. Nhiều quyết định xử lý vi hành vi vi phạm về thuế

không được các tổ chức và cá nhân vi phạm tuân thủ. Một số ban ngành liên quan

nhưu Công an, Viện kiểm sát,... ở một số địa phương chưa thật sự quan tâm đển quản

lý thuế trên địa bàn nên khả năng thực thi luật thuế chưa nghiêm.

b) Nguyên nhân chủ quan

Một là, do nhận thức của một số lãnh đạo, cán bộ quản lý thu thuế chưa đúng.

Do số thuế TNDN NQD chiếm tỷ trọng ít trong tổng số, không quyết định việc

hoàn thành dự toán nên thường không tập trung chỉ đạo quyết liệt.

Công tác chỉ đạo việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ và biện pháp quản lý thuế

chưa thật nghiêm túc. Các đội Thuế chưa chủ động trong quản lý thu thuế, chưa tham

mưu tích cực cho chính quyền các cấp và chưa phối hợp tích cực để cùng chỉ đạo làm

tốt quản lý thu trên địa bàn.

Hai là, hệ thống thủ tục hành chính còn lớn, quy trình thủ tục còn chủ yếu dựa

vào phương pháp thủ công truyền thống, bên cạnh đó thái độ ứng xử của một bộ

phận công chức thuế còn thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn đến còn gây bức xúc cho

doanh nghiệp trong việc thực hịên các thủ tục hành chính thuế.

Ba là, hệ thống quy trình nghiệp vụ còn đồ sộ, phúc tạp, các thao tác chủ yếu

thủ công, năng suất lao động thấp làm mất nhiều nguồn lực của ngành thuế. Hệ

thống công nghệ thông tin hiện tại còn nhiều hạn chế như các ứng dụng quản lý

thuế thiếu tính tích hợp cả về quy trình, công nghệ và khả năng tự động hoá do

quá trình phát triển nhiều giai đoạn, hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán tại cơ quan

thuế các cấp.

Bốn là, cơ cấu tổ chức hiện tại chưa phát huy hết những lợi ích của mô hình tổ

chức mới và còn những hạn chế như: lượng phân bổ số lượng cán bộ vào các chức

năng chưa phù hợp; thiếu sự gắn kết, tập trung trong việc tổ chức hoạt động quản lý

thuế giữa các cấp; vai trò của Chi cục Thuế trong việc giám sát và quản lý hoạt động

của cơ quan thuế cấp chi cục còn hạn chế; và thiếu nguồn nhân lực là chuyên gia hầu

hết trong các lĩnh vực quản lý thuế.

Năm là, Năng lực, trình độ của cán bộ thuế còn hạn chế và phương pháp làm việc

chưa khoa học, hiện đại, thiếu tính chuyên nghiệp là cản trở lớn nhất đối với khả năng



54



cải thiện hiệu quả hoạt động của ngành thuế. Sự cạnh tranh của khu vực khu vực tư

nhân, khu vực đầu tư nước ngoài thu hút nguồn lực có chất lượng từ ngành thuế chuển

sang, đồng thời với chính sách quản lý nhân lực của ngành còn nhiều bất cập sẽ tiếp

tục hạn chế khả năng nâng cao năng lực của ngành thuế. Việc đào tạo cán bộ thuế còn

thiếu chiến lược dài hạn để hình thành đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có kỹ năng quản

lý tiên tiến và có trình độ chuyên môn hoá cao dẫn đến quá trình đào tạo manh mún,

kém hiệu quả.

Số công chức hiện đang bố trí và sử dụng tại đội thuế đã lớn tuổi, không đủ sức

khoẻ và kết quả công tác không đáp ứng được yêu cầu thực hiện Luật Quản lý thuế do

năng lực, trình độ (số này chủ yếu đã là bộ đội, thanh niên xung phong đang được bố

trí sử dụng tại đội thuế, có công lao trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước không có khả

năng cập nhật, đào tạo bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ)

Vẫn còn tồn tại một bộ phận cán bộ quản lý, giải quyết công việc theo kinh

nghiệm mang tính chất công quyền, chưa thực sự tận tụy, công tâm, khách quan giữa

quyền lợi nhà nước với quyền lợi của người nộp thuế. Chưa trở thành người bạn đồng

hành đáng tin cậy của người nộp thuế.

Sáu là, việc chuyển đổi từ cơ chế quản lý cũ, sang mới (tự khai, tự nộp) đòi hỏi

thay đổi phương thức quản lý, trình độ quản lý và sự chuẩn bị về nhiều mặt như tái cấu

trúc lại tổ chức, thay đổi quy trình nghiệp vụ, kỹ năng quản lý... cần có thời gian nhất

định, đặc biệt thay đổi nhận thức của các công chức trong ngành thuế. Trong khi đó,

vẫn còn một nhóm cán bộ không sẵn sàng, thậm chí cản trở do vấn đề về xung đột lợi

ích cả nhân hoặc tư tưởng bảo thủ, không chịu trau dồi kiến thức, ngại thay đổi thói

quen làm việc... Một bộ phận công chức thuế (chủ yếu tập trung ở các đội thuế lien

phường xã) không theo kịp yêu cầu cải cách hiện đại hoá, năng lực trình độ yếu nhưng

không tự nguyện thôi việc; một số ít cán bộ không chịu rèn luyện, vi phạm đạo đức

công chức thuế, ảnh hưởng đến hình ảnh ngành thuế.

Bảy là, các chức năng quản lý tuân thủ NNT (kiểm tra, thu nợ và cưỡng chế) còn

nhiều hạn chế, hiệu lực, hiệu quả chưa cao do thiếu cơ sở dữ liệu thông tin về NNT,

các kỹ thuật, biện pháp kiểm tra còn yếu, kế hoạch, chương trình kiểm tra còn thiếu

tập trung vào nhóm NNT, lĩnh vực, địa bàn có rủi ro cao, đội ngũ cán bộ kiểm tra chưa

đảm bảo yêu cầu cả số lượng và chất lượng; hiệu lực cưỡng chế còn thấp do thiếu sự

phối hợp giữa các ngành và chính quyền địa phương.



55



TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Tác giả trình bày khái quát cơ cấu tổ chức bộ máy, về công tác quản lý thu thuế

TNDN NQD, thực trạng thu thuế thu nhập doanh nghiệp NQD trong 3 năm từ 2010

đến 2012 trên địa bàn huyện Nam Đàn. Trên cơ sở đó, luận văn đã phân tích, đánh giá

thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn huyện Nam Đàn

theo các chức năng quản lý thuế hiện hành. Với những nội dung chủ yếu công tác

tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, công tác quản lý đăng ký thuế, khai thuế và nộp

thuế, quản lý miễn thuế, giảm thuế, Quản lý thông tin người nộp thuế, quản lý nợ và

cưỡng chế nợ thuế

Luận văn cũng đã chỉ ra những hạn chế của công tác quản lý thuế thu nhập doanh

nghiệp trên địa bản huyện Nam Đàn trong thời gian vừa qua. Đồng thời tác giả cũng

chỉ ra những nguyên nhân cụ thể dẫn đến những hạn chế đã nêu.



56



CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ THU

NHẬP DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN

3.1. Định hướng quản lý thuế TNDN đến năm 2015

3.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quản lý thuế TNDN NQD ở Chi Cục

Thuế huyện Nam Đàn

3.1.1.1. Bối cảnh bên ngoài

Sự hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới đòi

hỏi phải có một chiến lược quản lý và chính sách thuế đảm bảo môi trường đầu tư

luôn mang tính cạnh tranh quốc tế trong khi vẫn tránh được những rủi ro nghiêm

trọng về tuân thủ thuế do toàn cầu hoá mang lại. Việt Nam sẽ tham gia quá trình toàn

cầu hoá mạnh mẽ hơn nữa do sự mở rộng của các hiệp định thương mại tự do song

phương và đa phương, chính sách khuyến khích hội nhập của chính phủ cũng như kế

hoạch tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng của doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài. Khi quyết định chọn địa điểm đầu tư, các công ty đã quốc gia cân

nhắc đến thuế suất và ưu đãi thuế của các quốc gia cũng như tính minh bạch của hệ

thống quản lý thuế. Trong khi đó, yêu cầu cải cách hành chính thuế, giảm thời gian,

chi phí tuân thủ pháp luật thuế tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh của doanh

nghiệp đang là áp lực đối với ngành thuế Việt Nam. Các công ty đa quốc gia đã và sẽ

tiếp tục phát triển về số lượng, quy mô cũng như các phương pháp tránh hoặc trốn

thuế tinh vi (ví dụ thông qua giá chuyển nhượng). Nhằm đối phó với rủi ro tuân thủ

này, ngành thuế cần phải tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát sự tuân thủ của

nhóm người nộp thuế này.

Sự thay đổi về cơ cấu nền kinh tế Việt Nam và cơ cấu người nộp thuế sẽ tạo thêm

thách thức cho hệ thống thuế. Một số ngành đang bắt đầu phát triển hẹn một nguồn thu

tiềm năng cho NSNN. Khối doanh nghiệp tư nhân sẽ tiếp tục phát triển mạnh là động

lực ngày càng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và việc làm. Cơ cấu đối tượng

nộp thuế (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài) sẽ thay đổi, nhu cầu được hỗ trợ về thuế cũng như rủi ro tuân thủ các

nhóm đối tượng nộp thuế cũng sẽ thay đổi rất nhanh chóng, trình độ quản lý của doanh

nghiệp ngày càng hiện đại do ứng dụng mạnh mẽ các phương pháp quản lý, công nghệ

quản lý mới, tiên tiến của các nước và với chính sách phát triển nguồn nhân lực mềm

dẻo, linh hoạt, chủ động sẽ thu hút ngày càng nhiều lực lượng lao động có chất lượng



57



cao làm đẩy nhanh khoản cách thiếu hụt về trình độ quản lý của cơ quan thuế với NNT

nói riêng và trình độ quản lý của bộ máy hành chính nhà nước với sự phát triển kinh tế

xã hội nói chung

Sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô, lĩnh vực hoạt động của các tổ

chức , cá nhân hành nghề dịch vụ về thuế với vai trò hỗ trợ NNT tự nguyện tuân thủ

pháp luật thuế sẽ dần thay thế mối quan hệ truyền thống giữa cơ quan thuế và NNT,

đòi hỏi cơ quan thuế phải điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế phù hợp và

phân bổ nguồn lực hiệu quả, tập trung nhiều hơn cho công tác giám sát thực thi pháp

luật thuế

3.1.1.2. Bối cảnh bên trong

Cơ cấu tổ chức của ngành thuế, mặc dù đã được tăng cường trong những năm gần

đây, tiếp tục tồn tại yếu kém gây trở ngại đối với hoạt động của ngành. Việc áp dụng

cơ cấu tổ chức theo chức năng trong các cơ quan thuế - nơi cán bộ thuế được phân

công vào bộ phận theo chức năng quản lý thuế là một bước tiến quan trọng trong sự

chuyển đổi của ngành thuế. Tuy nhiên, năng lực của ngành thuế trong việc khai thác

triệt để lợi ích của cơ cấu tổ chức mới bị hạn chế bởi nhiều yếu kém quan trọng trong

đó bao gồm: tỷ lệ cán bộ được phân bổ vào các chức năng của công tác quản lý thuế

chưa phù hợp ( thiếu cho các chức năng mang lại giá trị cao như tuyên truyền hỗ trợ,

kiểm tra và cưỡng chế); các hoạt động nghiệp vụ hầu như hoàn toàn được xử lý phân

tán trên toàn bộ mạng lưới cơ quan thuế cấp tỉnh và cấp huyện.

Năng lực yếu của cán bộ hạn chế khả năng cải thiện hiệu quả hoạt động của ngành

thuế. Sự cạnh tranh gia tăng nguồn cán bộ có kỹ năng từ khu vực tư nhân mới nổi cộng

với chính sách quản lý nhân lực hạn chế của khu vực công sẽ tiếp tục hạn chế khả

năng nâng cao hiệu quả của ngành thuế. Hiện đại hoá quy trình nghiệp vụ sẽ dẫn đến

nhu cầu cao hơn về trình độ cán bộ trong nhiều hoạt động nghiệp vụ và hỗ trợ.

- Những hạn chế của hoạt động kiểm soát tuân thủ người nộp thuế làm giảm hiệu

quả quản lý thuế trong bối cảnh khu vực tư nhân phát triển nhanh và Việt Nam hội

nhập kinh tế quốc tế sau hơn. Sau khi ban hành cơ chế tự khai tự nộp, ngành thuế đã

tìm cách tập trung lại hoạt động kiểm tra của mình thông qua việc áp dụng cách tiếp

cận rủi ro đối với lựa chọn trường hợp kiểm tra. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động

kiểm tra vẫn chưa cao do việc nghiên cứu xây dựng phương pháp kiểm tra theo rủi ro

trên cơ sở phân tích thông tin về NNT còn chậm; chưa xây dựng được hệ thống chỉ



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

×