Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (675.12 KB, 96 trang )
5
1.1.2.1. Theo chức năng quản lý vốn đầu tư
- Đầu tư trực tiếp: Là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia
quản lý vốn đã bỏ ra. Trong đầu tư trực tiếp, người bỏ vốn và người quản lý sử dụng
vốn là một chủ thể. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước hoặc đầu tư của
nước ngoài tại Việt Nam .
Đặc điểm của loại đầu tư này là chủ thể đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về
kết quả đầu tư. Chủ thể đầu tư có thể là Nhà nước thông qua các cơ quan doanh
nghiệp nhà nước, tư nhân thông qua công ty tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn.
- Đầu tư gián tiếp: Là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực tiếp
tham gia quản lý vốn đã bỏ ra. Trong đầu tư gián tiếp người bỏ vốn và người quản
lý sử dụng vốn không phải là một chủ thể. Loại đầu tư này còn được gọi là đầu tư
tài chính như cổ phiếu, chứng khoán,…
Đặc điểm của loại đầu tư này là người bỏ vốn luôn có lợi nhuận trong mọi tình
huống về kết quả đầu tư, chỉ có nhà quản lý sử dụng vốn là pháp nhân chịu trách
nhiệm về kết quả đầu tư.
- Cho vay (tín dụng): Đây là hình thức dưới dạng cho vay kiếm lời qua lãi suất
tiền cho vay.
1.1.2.2. Theo nguồn vốn
Đầu tư trong nước: Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh
tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam. Đầu tư trong nước chịu sự điều
chỉnh của Luật khuyến khích đầu tư trong nước.
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam : Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam
(dưới đây gọi tắt là đầu tư nước ngoài) là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư
theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
6
Đầu tư ra nước ngoài: Đây là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân của
nước này tại nước khác.
1.1.2.3. Theo tính chất đầu tư
Đầu tư chiều rộng (đầu tư mới): Đầu tư mới là đầu tư để xây dựng mới các
công trình, nhà máy, thành lập mới các Công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới.
Đặc điểm của đầu tư mới là không phải trên cơ sở những cái hiện có phát triển lên.
Loại đầu tư này đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, trình độ công nghệ và quản lý mới. Thời
gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, độ mạo hiểm
cao.
Đầu tư chiều sâu: Đây là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang bị
lại, đồng bộ hoá, hiện đại hóa, mở rộng các đối tượng hiện có. Là phương thức đầu
tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra, đòi hỏi ít vốn, thời
gian thu hồi vốn nhanh.
1.1.2.4. Theo thời gian sử dụng: Có đầu tư ngắn hạn, đầu tư trung hạn và đầu tư dài
hạn
1.1.2.5. Theo lĩnh vực hoạt động: Có đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư cho
nghiên cứu khoa học, đầu tư cho quản lý.
1.1.2.6. Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư
Đầu tư phát triển: Là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm
gia tăng giá trị tài sản. Đây là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng.
Đầu tư chuyển dịch: Là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ
vốn nhằm chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu,…).
1.1.2.7. Theo ngành đầu tư
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, BCVT, điện nước) và hạ tầng xã hội
(trường học, bệnh viện, cơ sở thông tin văn hoá).
7
Đầu tư phát triển công nghiệp: Nhằm xây dựng các công trình công nghiệp.
Đầu tư phát triển dịch vụ: Nhằm xây dựng các công trình dịch vụ.
1.1.3 Đặc điểm hoạt động đầu tư
Thứ nhất: Đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản cho sự phát triển và sinh
lời. Tuy nhiên có nhiều yếu tố tạo nên sự tăng trưởng và sinh lợi, trong đó có yếu tố
đầu tư. Để bắt đầu một quá trình sản xuất, tái sản xuất mở rộng, trước hết phải có
vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hóa vốn đầu tư thành vốn kinh doanh kết hợp với các
yếu tố khác, các tổ chức kinh doanh tiến hành hoạt động, từ đó tạo ra tăng trưởng và
sinh lợi. Vốn đầu tư được coi là một trong những yếu tố cơ bản nhất. Đặc điểm này
không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà
còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lợi.
Thứ hai: Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Khối lượng vốn đầu tư lớn là
yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần thiết đảm
bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển như: Xây dựng một hệ thống kết cấu hạ
tầng (KCHT), xây dựng các cơ sở khu công nghiệp, cụm công nghiệp, chế biến,…
Đầu tư cho các lĩnh vực đó đòi hỏi lượng vốn đầu tư bỏ ra rất lớn, vì vậy nếu không
sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gây nhiều tác hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba: Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản phải được trải qua một thời gian lao
động rất dài mới có thể đưa vào khai thác, sử dụng được, do đó thời gian hoàn vốn
kéo dài vì sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản
xuất không theo một dây truyền hàng loạt mà mỗi công trình, mỗi dự án có kiểu
cách, tính chất khác nhau. Cụ thể như sau:
- Sản phẩm xây dựng thường cố định. Đó là công trình gắn liền với đất.
- Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, có tính chất tổng hợp về
kinh tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ thuật,… Thời gian hoàn thành một quá trình xây
dựng thường dài, phụ thuộc vào quy mô tính chất của sản phẩm.
- Quá trình thi công xây dựng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tự nhiên: Nắng,
8
mưa, bão, gió,… Vì vậy, điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, luôn luôn
biến động và thường bị gián đoạn. Đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình tổ chức thi
công xây dựng phải có kế hoạch tổ chức, phân công hợp lý nhằm tận dụng triệt để
máy móc thiết bị, vật tư lao động,…hạn chế tối đa những thay đổi không hợp lý và
có biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học.
- Sản phẩm xây dựng được tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể: Để xây dựng
được một công trình phải dựa vào các hợp đồng kinh tế đã ký giữa các bên liên
quan.
- Cơ cấu quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp. Trong quá trình thi công xây
dựng thường có nhiều đơn vị tham gia xây dựng, mặt bằng thi công chật hẹp, yêu
cầu thi công đòi hỏi rất nghiêm ngặt về trình độ kỹ thuật. Quá tình đầu tư thường
bao gồm 3 giai đoạn: Xây dựng dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án. Giai
đoạn xây dựng dự án và giai đoạn thực hiện dự án là hai giai đoạn tất yếu của quá
trình đầu tư, thời gian kéo dài mà không tạo ra sản phầm. Vì vậy, một số nhà kinh tế
cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động hóa một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong
nhiều thời kỳ nối tiếp sau này, cho nên muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
cần chú ý các điều kiện đầu tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh dự án vào khai thác,
sử dụng và phát huy hiệu quả vốn đầu tư bỏ ra.
Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét toàn bộ ba giai đoạn của quá
trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự án
mà không chú ý vào thời gian khai thác dự án.
Do chu kỳ sản xuất xây dựng kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư
đặc biệt quan tâm, đó là phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để giảm đến mức
tối đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang. Việc coi trọng hiệu quả kinh tế
do đầu tư mang lại là rất cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo
trình tự xây dựng cơ bản. Thời gian hoàn vốn là một chỉ tiêu rất quan trọng trong
việc đo lường, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Thứ tư: Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư xây
9
dựng cơ bản chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài. Trong thời gian
này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên biến động sẽ gây nên những thất
thoát lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường được hết
khi lập dự án. Các yếu tố bão, lụt, động đất, chiến tranh,… có thể tàn phá các công
trình đầu tư. Sự thay đổi cơ chế chính sách của nhà nước như: Thay đổi chính sách
thuế, thay đổi mức lãi xuất, thay đổi nguồn nhiên liệu, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm
cũng có thể gây nên thiệt hại cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, những nhà đầu tư dám
mạnh dạn đầu tư thì họ cũng phải lựa chọn những biện pháp nhắm tránh hoặc hạn
chế được rủi ro, khi đó họ sẽ thu được những món lời lớn, và đây là niềm hy vọng
kích thích các nhà đầu tư.
Những đặc điểm của hoạt động đầu tư trên đây là cơ sở khoa học giúp cho việc
đề xuất những biện pháp quản lý vốn đầu tư thích hợp, hữu hiệu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế - xã hội của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản.
1.1.4. Vị trí, vai trò của đầu tư đối với sự phát triển của nền kinh tế
- Đầu tư cơ bản là yếu tố quyết định đến trình độ kinh tế của mỗi nước:
Đầu tư tạo ra tài sản cố định, đầu tư khoa học công nghệ để có sự thay đổi về
chủng loại và chất lượng sản phẩm.
Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước chủ yếu được đánh giá thông qua hai
chỉ tiêu: Thu nhập bình quân đầu người và mức độ tăng trưởng kinh tế hàng năm.
Để đạt được hai yếu tố này không còn con đường nào khác là phải tiến hành đầu tư
vào tài sản cố định, đầu tư vào nghiên cứu khoa học, kỹ thuật công nghệ để không
ngừng nâng cao năng lực sản xuất xã hội, từ đó tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế
ngày càng mạnh hơn. Có thể nói “Đầu tư cho hiện tại quyết định thành công về phát
triển kinh tế cho tương lai”. Đầu tư phát triển là động lực phát triển của nền kinh tế,
hiệu quả đầu tư quyết định đến sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi
quốc gia.
- Đầu tư cơ bản cải biến cơ cấu nền kinh tế và góp phần tạo ra cơ cấu kinh tế
hợp lý.
10
*) Cơ cấu kinh tế: Là sự phân chia các ngành nghề, các lĩnh vực trong nền kinh
tế về mặt tỷ trọng. Trong từng thời kỳ, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế của
mỗi nước, căn cứ vào tình hình thực tế và căn cứ vào khả năng tích lũy vốn cho đầu
tư, nhà nước sẽ đặt ra chiến lược đầu tư cụ thể cho các ngành, các địa phương các
lĩnh vực. Cụ thể là ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương nào sẽ được đầu tư bao
nhiêu, sẽ ưu tiên cho dự án nào, cắt giảm dự án nào. Việc làm này sẽ làm cho số
lượng, chất lượng tài sản cố định của ngành đó ưu tiên tăng lên. Trong khi đó,
ngành khác bị cắt giảm thì xu hướng sản xuất sẽ giảm đi. Thông qua công cụ đầu tư
làm thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như vậy, đầu tư sẽ trực tiếp
điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên bình diện quốc gia và ở từng địa phương.
*) Cơ cấu kinh tế hợp lý: Là cơ cấu được đảm bảo sự phân chia trong các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế sao cho phát huy tốt nhất, khai thác triệt để nhất
mọi tiềm năng về tài nguyên, về vốn, về lao động cũng như thế mạnh các ngành. Cơ
cấu kinh tế hợp lý còn tạo ra các điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế
trong giai đoạn tiếp theo.
Thông qua nhiều công cụ khác nhau như: Công cụ về tài chính (thuế suất), tiền
tệ (lãi suất) và công cụ về đầu tư, nhà nước trong từng thời kỳ có thể ưu tiên dành
vốn đầu tư cho những ngành quan trọng, những ngành mà nhà nước có thế mạnh có
khả năng đóng góp lớn vào nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, từ đó tạo ra được
cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Đầu tư cơ bản tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Mỗi nước có tài nguyên và tiềm lực về lao động khác nhau, nhưng không tự
khai thác được do thiếu vốn. Ngược lại có những nước không có tài nguyên nhưng
có vốn lớn, có tiềm năng về khoa học kỹ thuật, trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến,
dẫn đến tìm miền đất mới để đầu tư, nhằm tìm kiếm lợi nhuận, hai bên cùng hợp tác
và cùng có lợi.
Đầu tư là nhịp cầu nối liền giữa các quốc gia trên thế giới về các lĩnh vực tài
nguyên, lao động, khoa học công nghệ, hợp tác liên danh với nhau để cùng nhau
11
thúc đẩy nền kinh tế mỗi nước phát triển mở rộng sự hợp tác đầu tư quốc tế. Xu
hướng kết hợp hợp tác đầu tư quốc tế có tính chất toàn cầu.
Tóm lại, mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới có sức mạnh riêng về tài
nguyên, vốn, kỹ thuật, công nghệ, lao động,vv… Sự phân bố các tài nguyên này
thường là không đều. Các nước có vốn kỹ thuật công nghệ lại có thể thiếu lao động
(hoặc chi phí lao động cao), thiếu nguồn nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ bão
hòa, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong khi đó, một số nước khác có tình
trạng ngược lại. Vì vậy, để khai thác được thế mạnh mỗi bên, các nước tất yếu phải
phối hợp với nhau trong hoạt động đầu tư quốc tế. Kết quả là những công trình, dự
án có sự tham gia của một hay nhiều bên thông qua hợp đồng đầu tư. Các nước phát
triển có được nguồn nguyên vật liệu mới, có nơi sử dụng đồng vốn đầu tư có khả
năng sinh lợi cao, có được thì trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, còn có thể bán
được công nghệ kỹ thuật bắt đầu lỗi thời. Ngược lại, các nước chậm phát triển sẽ
khai thác được tài nguyên của mình góp phần phát triển nền kinh tế tạo ra nhiều
việc làm. Qua đó, còn học tập được thêm các công nghệ kỹ thuật mới và các kinh
nghiệm quản lý tiên tiến từ các nước phát triển. Việt Nam là một trong những nước
chậm phát triển, đòi hỏi sự phát triển nhanh và mạnh trong thời gian ngắn thì mới
có thể đuổi kịp được các nước phát triển. Tích lũy vốn của nước ta còn rất hạn chế.
Vì vậy, Việt Nam cần mở rộng việc gọi vốn và hợp tác đầu tư quốc tế, đây là nguồn
lực quan trọng để phát triển nền kinh tế nước ta trong thời gian hiện tại và trong
những năm tiếp theo. Việt Nam có một số thế mạnh để gọi vốn đầu tư nước ngoài.
Đó là:
- Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi nằm ở trung tâm phát triển kinh tế thế giới (Đông
Nam Á, các nước Asean), có bờ biển dài thuận lợi cho việc giao thương hàng hải, là
cửa ngõ của các quốc gia nằm trong lục địa.
- Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản tương đối phong phú.
- Có lực lượng lao động dồi dào (chi phí thấp) rất thuận lợi cho các ngành sử
dụng nhiều lao động.
12
- Việt Nam có một chính sách xã hội tương đối ổn định, an ninh tốt.
Những yếu tố trên là tiền đề kêu gọi vốn hợp tác đầu tư quốc tế. Trên thực tế,
trong các năm qua lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều.
1.2. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
1.2.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của ngân sách nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm
Ngân sách nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa Nhà
nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua quá trình hình thành, phân
phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của nhà nước nhằm đáp ứng
cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước về mọi mặt.
1.2.1.2. Vai trò của ngân sách nhà nước
- Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn lực tài chính đảm bảo cho
nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Những công cụ thường gặp như: thuế, lệ phí, viện
trợ không hoàn lại, thanh lý tài sản công,…
- Ngân sách nhà nước là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế
và các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng cho xã hội.
- Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa. Các yếu tố cơ bản của thị trường như: Cung
cầu, giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường.
Thị trường sẽ có nhiều bất ổn do sự mất cân đối của cung cầu. Do vậy, ngân sách
nhà nước sẽ giúp bình ổn thị trường, điều tiết giá cả cũng như kiềm chế lạm phát
.Đồng thời ngân sách nhà nước cũng là công cụ giúp định hướng, hình thành cơ cấu
kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất, kinh doanh và chống độc quyền.
13
1.2.1.3. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
- Hoạt động thu chi ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà
nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
- Hoạt động thu chi ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn
tài chính. Nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước.
- Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng
những lợi ích chung, lợi ích công cộng.
- Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét
khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước là: Nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi
dùng cho những mục đích đã định.
- Hoạt động thu chi ngân sách nhà nước được thực hiện chủ yếu theo nguyên
tắc không hoàn trả trực tiếp.
1.2.2. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.2.2.1. Khái niệm
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu
tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy
móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
1.2.2.2. Nguồn hình thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản
*) Nguồn trong nước:
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn có vai trò quyết định tới sự phát triển kinh
tế của đất nước. Nó gồm các nguồn sau:
- Vốn ngân sách nhà nước: Gồm ngân sách TW và ngân sách địa phương được
hình thành tự sự tích lũy của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản và một số nguồn
khác dành cho đầu tư xây dựng cơ bản.
14
- Vốn tín dụng đầu tư (do Ngân hàng đầu tư phát triển và quỹ hỗ trợ phát triển
quản lý) gồm: Vốn của nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ các đơn vị kinh tế
và các tầng lớp dân cư.
- Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế.
*) Nguồn vốn nước ngoài:
- Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế như: WB, ADB, các tổ chức phi chính
phủ như JBIC (OECF ), vốn ODA.
- Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài thông qua hình thức 100% vốn nước ngoài,
liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh.
1.2.2.3. Nội dung của vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Nội dung của vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các khoản chi phí gắn liền
với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản. Nội dung này bao gồm:
*) Vốn cho xây dựng và lắp đặt.
- Vốn cho hoạt động chuẩn bị xây dựng, chuẩn bị mặt bằng.
- Những chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, nhà xưởng, văn
phòng làm việc, nhà kho,…
- Chi phí cho công tác lắp đặt.
- Chi phí để hoàn thiện công trình.
*) Vốn mua sắm máy móc thiết bị.
Đó là toàn bộ các chi phí cho công tác mua sắm và vận chuyển bốc dỡ máy
móc, thiết bị được lắp vào công trình.
*) Các vốn khác.
- Chi phí tư vấn đầu tư, đền bù, chi phí quản lý dự án, bảo hiểm,…
- Chi phí mua sắm nguyên vật liệu, công cụ, chi phí đào tạo.
15
1.3. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
1.3.1 Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.3.1.1. Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
*) Chủ thể quản lý: Là tổng thể các cơ quan quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB
của nhà nước với cơ cấu tổ chức nhất định.
*) Đối tượng quản lý: Chính là vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước (xét
về mặt hiện vật), là các cơ quan quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cấp
dưới (xét về cấp quản lý).
1.3.1.2. Quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Theo nguyên tắc, nguồn vốn ngân sách nhà nước phải được nhà nước quản lý
chặt chẽ từ khâu giao kế hoạch cho đến khi đầu tư. Do vậy, nguồn vốn đầu tư xây
dựng cơ bản cũng được quản lý chặt chẽ.
*) Công tác lập kế hoạch đầu tư: Bộ kế hoạch đầu tư tổng hợp kế hoạch vốn
đầu tư từ ngân sách của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế để dự báo,
hướng dẫn các ngành, lĩnh vực cần tập trung đầu tư, những cơ chế áp dụng trong kỳ
kế hoạch. Sở kế hoạch đầu tư phải xác định cụ thể danh mục đầu tư và kế hoạch vốn
đầu tư của các dự án sự dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Nhà nước quản lý
chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, cơ cấu
vùng. Với các công trình, dự án quan trọng Quốc gia trong kế hoạch hàng năm và
từng thời kỳ phát triển thì do Quốc hội quyết định. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
mục tiêu, tổng mức vốn đầu tư đê bố trí kế hoạch cho các bộ, các địa phương thực
hiện.
*) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua báo cáo
đầu tư, dự án đầu tư và thẩm duyệt dự án đầu tư, thẩm định các báo cáo nghiên cứu
khả thi, báo cáo thiết kế kỹ thuật và quyết định đầu tư.
*) Giai đoạn thực hiện đầu tư: Nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua việc phê
duyệt quyết định đấu thầu, kết quả đấu thầu, giám sát quá trình thực hiện đầu tư,