1. Trang chủ >
  2. Đại cương >
  3. Triết học >

THỜI KỲ HỌC HỎI CỦA PLATON

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.86 MB, 499 trang )


PLATON



25



đ{n ông chứ không phải một người đ{n b{, v{ quan trọng nhất

l{ được sinh vào thời Socrate.”

Khi Socrate chết, Platon mới được 28 tuổi, và biến cố cảm động

n{y đ~ in s}u v{o t}m thức của Platon. Nó làm cho Platon thù

ghét những tư tưởng dân chủ, thù ghét quần chúng thêm vào sự

thù ghét phát sinh từ giai cấp quý tộc của Platon. Do đó ông ta

chủ trương rằng cần phải tận diệt chế độ dân chủ v{ thay v{o đó

một chính thể do những phần tử quý tộc và sáng suốt l~nh đạo.

Một trong những vấn đề trọng đại m{ Platon đ~ nghiên cứu suốt

đời l{ l{m sao tìm ra người khôn ngoan nhất để giao phó việc

l~nh đạo quốc gia.

Trong lúc đó những liên hệ giữa Platon và Socrate làm cho chính

quyền đương thời nghi ngờ Platon. Những bạn bè của ông

khuyên ông nên trốn khỏi Athènes v{ ông cũng cho rằng đ}y l{

một dịp tốt để chu du thế giới. Năm 399 TCN ông x|ch gói ra đi.

Những nơi n{o ông đ~ đi qua chúng ta không được biết rõ. Hình

như ông đ~ đi Ai Cập trước tiên và ông rất bất bình khi nghe các

nh{ l~nh đạo tôn giáo cai trị xứ này nói rằng Hy Lạp là một quốc

gia ấu trĩ không có truyền thống v{ văn hóa v{ không thể so sánh

được với quốc gia Ai Cập. Sự bất m~n n{y l{m ông ta suy nghĩ

nhiều hơn v{ chuyến đi Ai Cập đóng một vai trò quan trọng

trong tác phẩm của ông nhan đề l{ Utopia. Sau đó ông đ|p t{u

qua Sicie v{ đến Ý. Ở đó ông gia nhập nhóm triết gia do Pythagore sáng lập. Cảnh tượng một nhóm người có quyền chính

trị rộng rãi lại say mê trong việc nghiên cứu và học hỏi, sống một

cuộc đời bình dị mặc dù nắm nhiều quyền thế trong tay là một

đề t{i để Platon suy nghĩ. Ông đi chu du suốt 12 năm, học hỏi tất

cả các chính thể, họp bàn với tất cả các nhóm, tìm hiểu tất cả các



26



Will Durant: CÂU TRUYỆN TRIẾT HỌC



học thuyết. Một v{i người cho rằng ông đ~ đến Judée v{ đ~

nghiên cứu học thuyết đượm tính chất xã hội của các triết gia ở

đ}y. Có người cho rằng ông đ~ đến tận bờ sông Hằng và học hỏi

tư tưởng các triết gia Ấn độ.

Ông trở về Athènes năm 387 TCN, lúc n{y ông đ~ 40 tuổi, một

người già dặn sau nhiều năm học hỏi ở nhiều nước. Ông vẫn còn

giữ sự hăng h|i của tuổi trẻ nhưng ông đ~ nhận thức được rằng

tất cả những tư tưởng quá khích chỉ là những chân lý nửa vời.

Ông vừa là một triết gia, vừa là một thi sĩ, lối văn của ông vừa

khúc chiết như một bài luận triết học, vừa đẹp đẽ như một bài

thơ: đó l{ lối văn đ{m thoại. Chưa bao giờ triết học trải qua một

thời gian sáng lạn như vậy. Văn thể của ông sáng chói ngay cả

trong những bản dịch. Shelley nhận xét rằng văn thể của Platon

kết hợp luận lý sắc bén và hồn thơ lai l|ng, vừa dịu dàng trong

}m điệu vừa hùng hồn trong lập luận. Nên biết rằng trước khi

trở thành một triết gia Platon là một nhà soạn kịch.

Sự kết hợp của văn chương v{ triết lý, của khoa học và nghệ

thuật trong các tác phẩm của Platon đôi khi l{m chúng ta khó

hiểu: chúng ta không biết rằng những nhân vật của Platon diễn

tả tư tưởng của mình trong trường hợp nào, châm biếm, pha trò

hay nói đứng đắn. Khuynh hướng pha trò châm biếm của Platon

đôi khi l{m chúng ta bỡ ngỡ. Những cuộc đối thoại do Platon

viết ra l{ để cho đại chúng: nhờ trình bày những luận điệu bênh

vực v{ đả kích, nhờ lập đi lập lại những ý tưởng nòng cốt, các tác

phẩm của Platon rất thích hợp với những người muốn học triết

lý cho qua thì giờ. Do đó những lối ngụ ngôn, những giọng văn

h{i hước thường rất nhiều. Ngoài ra lẽ cố nhiên còn có những tư

tưởng liên quan đến những biến cố m{ Platon cùng người

đương thời thường bàn bạc đến, những tư tưởng này rất khó



PLATON



27



hiểu đối với một độc giả thế kỷ thứ hai mươi.

Chúng ta phải công nhận rằng Platon có những đặc tính mà ông

thường chỉ trích. Ông không ưa những thi sĩ với trí tưởng tượng

quá dồi d{o. Ông không ưa những gi|o sĩ, nhưng chính ông là

một gi|o sĩ, một giảng sư. Giống như Shakespeare, ông cho rằng

mọi sự so s|nh đều nhầm lẫn, nhưng ông lại luôn luôn dùng

phương ph|p so s|nh. Ông chỉ trích các triết gia đương thời là

những kẻ miệng lưỡi nhưng chính ông cũng dùng phương ph|p

này. Faguet đ~ nhại lối văn của Platon như sau: - Toàn thể lớn

hơn một phần, phải chăng? - Chắc chắn như vậy. - Và một phần

nhỏ hơn to{n thể phải chăng? - Đúng như thế. -... Do đó rõ r{ng

là triết gia phải l~nh đạo quần chúng. - Ông nói cái gì? - Thật là

rõ ràng, chúng ta hãy lý luận trở lại.

Mặc dù tất cả những lời chỉ trích, những cuốn đối thoại của Platon là một trong những tác phẩm hay nhất của thế giới. Tác

phẩm Cộng hòa là một công trình rộng lớn dưới hình thức một

cuốn sách nhỏ trong đó tập trung những tư tưởng của Platon về

siêu hình, thần học, đạo đức học, tâm lý học, sư phạm, chính trị

và thẩm mỹ. Chúng ta có thể tìm thấy trong đó những vấn đề mà

ng{y nay chúng ta đang băn khoăn suy nghĩ: thuyết Cộng sản và

xã hội, thuyết nam nữ bình quyền, thuyết hạn chế sinh sản và

phương ph|p dạy trẻ. Những vấn đề của Nietzsche về đạo đức và

quý tộc, những vấn đề cũng Rousseau về trạng thái thiên nhiên

và tự do giáo dục, những vấn đề của Bergson về đ{ sống (élan

vital) và những vấn đề của Freud về phân tâm học. Emerson nói

rằng: “Platon l{ triết lý, và triết lý l{ Platon”. Đối với ông, thì

quyển Cộng hòa của Platon cũng như kinh Coran v{ người ta có

thể đốt tất cả c|c thư viện, vì tinh hoa của c|c thư viện đều nằm

trong cuốn sách này.



28



Will Durant: CÂU TRUYỆN TRIẾT HỌC



Chúng ta hãy nghiên cứu tác phẩm Cộng hòa!



4. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC

Cuộc tranh luận xảy ra trong nhà của Cephalus, một người giàu

có thuộc giai cấp quý tộc. Trong cuộc tranh luận còn có Glaucon

và Adeimantus, anh của Platon, Thrasymachus, một triết gia

đương thời. Socrate (m{ Platon dùng như một nhân vật để diễn

tả những tư tưởng của chính mình) hỏi Cephalus: - Lợi ích quan

trọng nhất mà tiền của đem lại cho ta, theo ý ông là gì? Cephalus

trả lời: tiền của cho phép ông ta có thể độ lượng, thật thà và

công bằng. Socrate hỏi: công bằng nghĩa l{ gì? Và mở ra một

cuộc tranh luận d{i. Không gì khó hơn một định nghĩa, vì nó đòi

hỏi nhiều khôn khéo và sáng suốt trong tư tưởng. Socrate đả phá

tất cả những định nghĩa do cử toạ đưa ra cho đến lúc Thrasymachus mất bình tĩnh v{ la lên: - Socrate, ông có điên không?

Tại sao các ông lại dẫm ch}n nhau như vậy? nếu ông muốn biết

công bằng là gì, ông phải trả lời chứ không được hỏi, ông không

nên tự h{o vì đả ph| được kẻ khác... Có rất nhiều người có thể

đặt câu hỏi nhưng không thể trả lời. Socrate không nao núng.

Ông vẫn hỏi chứ không trả lời, v{ sau cùng Thrasymachus đưa ra

một định nghĩa: “H~y nghe đ}y: tôi cho rằng sức mạnh là lẽ phải,

và công bằng là quyền lợi của kẻ mạnh... Những chính thể khác

nhau làm nên luật, dù đó l{ chính thể dân chủ, quý tộc hay độc

tài, tất cả đều nhắm đến quyền lợi của mình; và những điều luật

ấy, l{m ra để phụng sự quyền lợi của chúng, được đặt lên đầu

nhân dân và gọi là công bằng, những kẻ n{o cưỡng lại sẽ bị phạt

và bị xem là không công bằng...

Tôi nói về sự bất công một cách tổng qu|t, v{ ý nghĩ của tôi rất



PLATON



29



rõ ràng khi nghiên cứu chính thể độc tài. Trong chính thể này,

người ta dùng sức mạnh và sự gian tr| để xâm chiếm tài sản kẻ

khác. Khi một người đ~ lấy tất cả tài sản của dân chúng và bắt

dân chúng làm nô lệ người ta xem nó không phải là một kẻ

thượng lưu. Người ta chỉ trích sự bất công khi người ta là nạn

nhân chứ không phải vì bị lương t}m cắn rứt mỗi khi có hành vi

bất công.”

Đó l{ học thuyết m{ ng{y nay được gán ít nhiều cho Nietzsche.

“Tôi thường cười những kẻ yếu tưởng rằng mình là tốt, chỉ vì

chúng nó chân tay què quặt”. Stirner diễn đạt tư tưởng một cách

gọn g{ng hơn: “một nắm quyền hành tốt hơn một bao lẽ phải”.

Tư tưởng trên cũng được Platon diễn tả trong Gorgias. Calliclès

chỉ trích rằng đạo đức là một phát minh của kẻ yếu để vô hiệu

hóa quyền lực của kẻ mạnh.

”Chúng nó khen v{ chê tùy theo quyền lợi của chúng: chúng nói

rằng gian manh là bất công và nhục nhã, chúng nó cho rằng gian

xảo là ý muốn có nhiều hơn người hàng xóm, vì tự biết trình độ

thấp kém của mình, chúng chỉ mong được bình đẳng... Nhưng

nếu có một người với đầy đủ quyền lực, người ấy sẽ vượt lên

trên những lý luận này, sẽ ch{ đạp tất cả những công thức,

những luật lệ...

”Những kẻ sống thực sự cần phải cho ý chí của mình phát triển

đến tột độ; v{ khi đ~ phát triển ý chí đến tột độ, họ phải có đủ

can đảm v{ thông minh để phụng sự ý chí, để thỏa mãn tất cả

những điều ham muốn. Đó l{ lẽ công bằng tự nhiên, sự quý phái

tự nhiên. Nhưng đa số không thể l{m như vậy, do đó họ chỉ trích

người khác. Chính vì họ nhục nhã trong sự bất lực, chính vì họ

muốn che dấu sự nhục nhã ấy, họ tuyên bố rằng lòng tham vô độ



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (499 trang)

×